Friday, March 9, 2012

Làm thế nào đề bông bí thật sự là một loại rau sạch

Image Detail
Bí đỏ (còn gọi là bí rợ) là một loại rau được trồng phổ biến vào tháng 5 đến tháng 6 dương lịch. Bí đỏ dễ trồng, trái có thể tồn trữ lâu và là loại cây trồng mang giá trị kinh tế cao. Ngoài thu hoạch trái là sản phẩm chính, nông dân còn thu hoạch cả đọt bí và bông bí, loại rau rất ngon, chế biến được nhiều món ăn nên thậm chí được ưa chuộng hơn cả trái. Tuy nhiên, trong suốt thời kỳ sinh trưởng, bí đỏ bị nhiều loài sâu hại tấn công, trong khi đọt bí và bông bí phải thu hoạch hàng ngày nên việc sử dụng hoá chất không thận trọng sẽ rất dễ để lại dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản, ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng. Vậy làm thế nào để bông bí thật sự là một loại rau sạch mà người tiêu dùng không còn lo ngại khi sử dụng? Đây là một vấn đề mà nông dân trồng bí cần phải quan tâm.
Đọt bí và bông bí có thể chế biến được nhiều món ăn ngon.
Khi bí đã có 3-4 lá thật, cây sắp ngả ngọn thì cần vun gốc kịp thời để cho bí có ngọn to, bụ bẫm, non mới bán được giá. Mỗi dây để 3-4 nhánh khỏe, tỉa các nhánh còn lại làm rau ăn. Trên dây bí đỏ lượng hoa đực rất lớn nên sau khi đã đậu trái, hoa đực được tỉa hàng ngày. Trong giai đoạn này, bí đỏ thường bị 2 loại sâu hại tấn công là bọ dưa và sâu xanh ăn lá.
Trưởng thành bọ dưa là bọ cánh cứng màu vàng cam, hình bầu dục. Bọ trưởng thành hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối, trời nắng ẩn dưới tán lá hoặc trong đất, đẻ trứng rãi rác trên mặt đất. Sâu non sống và hóa nhộng trong đất. Bọ trưởng thành cạp lớp biểu bì mặt lá thành một đường vòng làm lá bị thũng thành những lổ tròn. Bọ dưa thường cắn phá mạnh dây bí có 4-5 lá thật, mật số cao có thể làm cây trụi hết lá và đọt non. Khi dây bí lớn, lá có nhiều lông ít bị bọ dưa cắn phá. Ấu trùng bọ dưa sống trong đất ăn rễ cây làm cây sinh trưởng kém và có thể chết.
Bọ trưởng thành hoạt động mạnh vào sáng sớm và chiều tối.
Sâu xanh ăn lá thường sống ở đọt và mặt dưới lá non, nhã tơ cuốn lá non lại ở bên trong cắn đọt và lá, khi có trái non, sâu gặm trái làm vỏ sần sùi loang lỗ. Khi đẫy sức, sâu hoá nhộng trong lá cuốn hoặc trong lá khô ở mặt đất. Sâu xanh ăn lá phát sinh gây hại từ khi dây bí còn nhỏ đến khi có trái, nhiều nhất là khi cây bắt đầu ra hoa và có trái non.
Giai đoạn ra hoa, đọt bí và bông bí được thu hoạch hàng ngày. Song, lúc này sâu hại cũng phát triển nhiều. Vì thế, để bảo vệ năng suất đồng thời phải bảo đảm nông sản sạch, nông dân nên áp dụng biện pháp thủ công phòng trừ sâu hại như bắt bằng tay, dùng vợt bắt trưởng thành bọ dưa và sâu xanh ăn lá hoặc chọn lọc những loại thuốc sinh học ít độc, có thời gian cách ly ngắn từ 1-3 ngày. Có thể sử dụng một số thuốc như: Map-Biti WP 50.000 IU/mg, Proclaim 1.9EC , Biocin 16WP, Success 25SC,…. Phun thuốc vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Tuyệt đối phải ngưng thu hoạch đọt và bông sau khi phun thuốc, bảo đảm đúng thời gian cách ly.
Bí đỏ cần lượng nước rất lớn để duy trì được năng suất và sản lượng chất xanh cao, vì vậy cần tưới nước thường xuyên, đảm bảo độ ẩm cho cây mới có năng suất cao, chất lượng tốt./
.Image Detail

Kỹ thuật trồng chuyên canh dừa dứa cho năng suất cao


Lập dừa dứa là tên quen thuộc mà người dân ở ấp Phước Hậu, xã Tam Phước (Châu Thành) đã đặt cho anh Hồ Văn Lập. Bởi, toàn xã chỉ có khoảng 5 ha diện tích trồng dừa dứa, anh Lập là một trong những người đầu tiên của xã đến với mô hình này.
Theo anh Lập, dừa dứa trồng 27 tháng cho trái, trước khi trồng phải chọn giống kỹ, để phân biệt các loại dừa giống khác, dừa dứa có đặc điểm lá, rễ đều có mùi thơm lá dứa. Vì vậy, khi mua để tránh nhầm lẫn nên vò lá, rễ từng cây một. Ngoài đặc tính nước ngọt thanh chung của dừa, thì dừa dứa còn có đặc tính riêng là hương thơm dứa. Đó cũng là một trong những ưu điểm làm tăng thêm giá trị của dừa dứa.
Hiện tại, anh có 8.500 m2 đất trồng dừa dứa. Trong đó, dừa hơn 5 năm tuổi đang cho trái ổn định khoảng 6.000m2 đất, còn lại dừa 2 năm tuổi cũng cho những trái đầu tiên. Dừa giống trước đây được anh mua từ Trung tâm giống cây trồng của tỉnh, Trung tâm dừa Đồng Gò.
Dừa dứa sai trái
Về kỹ thuật trồng dừa dứa anh Lập cho biết cũng không khác gì so với các loại dừa khác. Trong vườn dừa cây nào cũng ngay hàng thẳng lối và cho sai trái do anh Lập trồng khoảng cách là 6,5m x 6,5m (khoảng 250 cây/ha), có hệ thống thoát nước tốt, tùy theo đất cao hay đất thấp mà xẻ mương cho thích hợp. Đối với đất cao mương thoát nước là 1,5m, và rộng hơn đối với đất thấp. Không riêng gì dừa dứa mà hầu hết các loại dừa thường bị bọ dừa, kiến vương, bệnh thối bẹ,… vì vậy phải theo dõi để phát hiện và điều trị kịp thời.
Bên cạnh đó, để dừa có năng suất cao, độ ngọt và mùi thơm được ổn định còn tùy thuộc vào kỹ thuật chăm sóc, bón phân. Chế độ và cách bón phân cũng tùy vào từng loại đất mà có liều lượng và loại phân thích hợp. Nên sử dụng phân đơn kết hợp với phân hữu cơ trong canh tác dừa để đảm bảo cung cấp đầy đủ các yếu tố đa trung vi lượng cho dừa, như: đạm, lân, kali, canxi, lưu huỳnh, bo,… nhằm đảm bảo năng suất và chất lượng. Lượng phân trung bình được anh Lập sử dụng là 1 cây/năm khoảng 1kg urea + 1kg lân nung chảy + 1kg lân super + 1kg kali + 10-20kg phân hữu cơ hoai và ít phân vi lượng khác. Chia thành 6 lần để bón trong năm, cách bón phân là xung quanh gốc, cách gốc khoảng 1-2m. Sau khi bón phân xong, tưới nước cho phân tan, dừa dễ hấp thu. Đó là lượng phân dùng cho dừa lớn, đối với dừa khoảng 2 năm tuổi, lượng phân = 1/2 và cách bón cũng chia đều tương tự.
Anh Hồ Văn Lập phấn khởi với cây dừa dứa 2 năm tuổi cho trái chiến.
Hiện nay, không ít nhà vườn trồng dừa dứa băn khoăn bởi mùi thơm và độ ngọt của nước không ổn định. Anh Lập luôn tự tin về điều này và phấn khởi nói: “Cách bón phân là chia đều thành nhiều lần trong năm, giúp sai trái, duy trì độ ngọt nước và mùi thơm ổn định, đặc biệt giai đoạn cây cho trái, cứ 2 tháng bón phân 1 lần. Đó là một trong những bí quyết thành công”.
Nhìn bên ngoài, trái dừa dứa cũng không có điểm gì nổi bật so với các loại dừa khác. Vì vậy, anh Lập khuyến cáo nên đến vườn hoặc những nơi bán lẻ có uy tín, đáng tin cậy để mua không bị nhầm. Trong lần đầu tiên thương lái vào vườn mua cũng thử từng cây một để xem có phải dừa dứa không. Từ đó về sau, cứ khoảng 20 ngày thương lái vào tận vườn mua, 1 lần thu hoạch khoảng 500-600 trái, giá 7.000-8.000 đồng/trái vào mùa nắng có khi lên tới 14.000-15.000 đồng/trái không cần phải thử như lần đầu tiên- anh Lập nói.
Theo tính toán của anh Lập, mỗi cây dừa dứa trung bình cho khoảng 100 trái/năm, chi phí thấp, khoảng 50 ngàn đồng/cây/năm (công chăm sóc, phân, thuốc,…). Người trồng dừa dứa lợi nhuận gấp đôi so với các loại dừa uống nước khác.
Ngày nay, dừa không còn là cây trồng truyền thống của người dân Bến Tre mà đã trở thành một trong những loại cây trồng chủ lực được ngành chức năng quan tâm, đầu tư để khai thác tiềm năng, lợi thế của nó. Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ Khoa học và Công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ) cũng đã triển khai thực hiện dự án: “Du nhập trồng và phát triển 500 ha dừa dứa tại tỉnh Bến Tre” từ năm 2006, giai đoạn đầu là mô hình 50 ha và trong giai đoạn nhân rộng cũng thực hiện thành công được Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh nghiệm thu dự án “Thực hiện giai đoạn nhân rộng dự án du nhập, trồng và phát triển 200 ha dừa dứa tại Bến Tre” tháng 10/2011.

Thursday, March 8, 2012

Một số lưu ý để dưa hấu đạt năng suất và phẩm chất cao


Dưa hấu là một loại trái cây không thể thiếu trong những ngày Tết cổ truyền. Mặc dù, hiện nay dưa hấu được trồng quanh năm nhưng Tết vẫn là mùa dưa hấu chính vụ. Trong những năm gần đây, diện tích dưa hấu ngày càng phát triển, tuy nhiên nông dân thường chú ý đến năng suất mà ít quan tâm đến phẩm chất dưa, trái rất mau bị thối trong bảo quản. Để dưa hấu đạt năng suất và phẩm chất cao, nông dân trồng dưa hấu cần chú ý một số vấn đề sau:
* Phân bón là yếu tố rất quan trọng làm tăng năng suất nhưng ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất trái dưa. Nếu lạm dụng phân bón hoặc sử dụng không đúng sẽ làm cho dưa hấu giảm phẩm chất rõ rệt, rút ngắn thời gian bảo quản. Tuỳ theo loại đất mà có lượng phân bón khác nhau. Trên vùng đất tốt thì bón ít phân hơn. Trung bình 1.000m2 dưa hấu thì bón 1-2 tấn phân chuồng hoai mục; 20-30 kg phân tôm cá ( làm tăng vị ngọt và màu sắc của dưa) ; vôi 50-100kg kết hợp với lượng phân hóa học: 5 kg Urea + 5 kg DAP + 3 KCL + 80 kgNPK 16-16-8 ( nếu sử dụng phân đơn: 22 kgUrea, 35 kgDAP và 15 kgKCL). Ngay từ đầu vụ nên sử dụng màng phủ nông nghiệp sẽ hạn chế sự thất thoát phân bón do rửa trôi hoặc bốc hơi.
* Bón đúng thời kỳ cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất dưa hấu. Phân vôi được bón trước khi trồng 5 ngày. Bón lót toàn bộ lượng phân chuồng, 1/3 phân tôm cá, 1/10 lượng phân hoá học.
- Sau khi cấy 7-10 ngày nên pha phân tưới, Urea hoặc DAP pha loãng 1-2%, tưới 2-3 lần, tưới thẳng vào gốc ( 1 thùng 10 lít tưới cho khoảng 50 dây). Khi dây dưa chuẩn bị bò, rãi 2/10 lượng phân hóa học, 1/3 phân tôm cá, rãi cách gốc 20-30 cm.
- Lúc cây chuẩn bị ra hoa ( 25 -27 ngày sau cấy) rãi 3/10 lượng phân hoá học, 1/3 phân tôm cá. Giữa rãi phân lần 1 và lần 2 nên pha phân Urea hoặc DAP pha loãng nồng độ 3-5%, tưới dậm khoảng 2 lần.
- Giai đoạn mang trái: lượng phân còn lại pha nước để tưới, chia nhỏ làm 4-5 lần tưới, mỗi lần cách nhau 5 ngày, số lượng tăng dần theo nhu cầu của dây dưa. Hai lần tưới đầu lúc trái bằng nắm tay thì phối hợp phân Urea và DAP, trái lớn thì phối hợp DAP và KCL, trái chuẩn bị chín chỉ nên sử dụng KCL sẽ tạo cho trái dưa nhiều cát, có vị ngọt đậm đà và màu sắc đẹp,
* Tưới nước: tưới nước đúng cách sẽ hạn chế sự nứt trái và giúp trái bảo quản được lâu.
- Khi cây còn nhỏ, rễ chưa ăn sâu và rộng cần tưới sát gốc và nhiều lần trong ngày. Khi cây lớn, tưới xa gốc để nhử rễ mọc lan. Chỉ nên tưới gốc không nên tưới lên lá cây dễ bị bệnh.
- Giai đoạn mang trái cây cần nhiều nước nhất để trái phát triển. Tuy nhiên, 10 ngày trước khi thu hoạch bắt đầu giảm tưới, 5 ngày trước khi thu hoạch nên ngưng tưới hoàn toàn để giúp dưa ngọt, chắc và giữ được lâu.
* Thuốc bảo vệ thực vật: lạm dụng phân bón lá hoặc thuốc kích thích sinh trưởng giai đoạn trái sẽ làm trái có vị lạt, dễ bị thối trong quá trình bảo quản. Tuyệt đối không xử lý thuốc bảo vệ thực vật khi sắp thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng./.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây đu đủ

Cây đu đủ
Đặc tính sinh thái:
Cây đu đủ là cây nhiệt đới, rất sợ sương muối, sức chống rét của đu đủ rất kém. Nhiệt độ thích hợp cho đu đủ sinh trưởng khoảng từ 22-260C. Do sinh trưởng liên tục, khối lượng lá lớn, bốc thoát hơi nước nhiều, đu đủ yêu cầu lượng mưa khoảng từ 1800-2000mm/năm và phân bố đều. Đu đủ là cây không chịu hạn, cũng không chịu úng, do đó đất trồng đu đủ yêu cầu phải đảm bảo tưới tiêu thuận lợi. Đu đủ không thích đất chua, thích hợp với loại đất có độ pH từ 6-8. Đất phù sa ven sông, đất rừng mới khai phá, nhiều mùn thoát nước trồng đu đủ rất tốt. Đu đủ thích ánh sáng, nên nếu trồng xen trong vườn cây thiếu ánh sáng sẽ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng đu đủ. Đu đủ ít mẫn cảm với quang kỳ, do đó có thể ra hoa kết quả quanh năm miễn là điều kiện thích hợp. Đu đủ chống bảo yếu do bộ rễ thường ăn cạn, nhưng lại có bộ lá dày, quả nhiều, gặp gió bão, đu đủ nặng đầu dễ bị lật đổ, do đó cần chú ý trồng cây chắn gió cho vườn đu đủ ( nếu cần phải làm cây chống).
Cách xác định tính đực, cái và chọn giống cho vườn đu đủ:(dựa theo tài liệu của giáo sư Vũ Công Hậu).
Đu đủ là cây lâu năm nhưng phát dục nhanh, từ trồng đến khi có quả trung bình từ 10 tháng đến 12 tháng, hiện nay hầu hết nhân giống đu đủ thường nhân bằng hạt, do đó dễ có tình trạng biến dị.
Đu đủ có 3 loại cây: Cây mang hoàn toàn hoa đực, cây mang hoàn toàn hoa cái và cây mang hoa lưỡng tính. Qua thực tế các nhà nghiên cứu cho thấy một vườn đu đủ trồng tự nhiên không chọn lọc thì tỷ lệ cây đực là 5,5%, cây cái là 25,7%, tỷ lệ cây lưỡng tính là 68,8%.. Người ta có thể xác định ngay từ đầu những cây đu đủ đực và cái, ở nước ta kinh nghiệm chọn cây cái, đực trong dân gian như sau:
- Chọn hạt: Chọn hạt đen tỷ lệ cái cao, hạt xám, tỷ lệ cây đực nhiều.
- Chọn cây non: Cây to, lá xanh đậm, thân mọc thẳng, rễ cọc ăn sâu thường là cây đực. Ngườc lại cây thấp, màu lá xanh lợt, thân nhỏ hơn, hơi cong, rễ ngang nhiều, rễ cọc yếu, thường là cây cái.
Muốn có vườn đu đủ nhiều cây cái và cây lưỡng tính, biện pháp đang tin cậy nhất là chọn giống. Lấy hạt giống ở những cây lai (giữa cây cái với cây lưỡng tính hoặc lai giữa cây lưỡng tính với cây lưỡng tính).
Kỹ thuật xử lý và gieo hạt sản xuất cây giống:
Trên cây mẹ tốt, không sâu bệnh, chọn quả to vừa chín tới, quả đều đặn. Lấy hạt ở đoạn giữa trái, phần lấy hạt chiếm khoảng 2/3 chiều dài quả. Hạt lấy ra bóp cho tróc lớp màng trong nhớt bao quanh hạt, phơi trong bóng râm cho khô. Hạt đu đủ nhỏ nên lượng giống cần dùng đễ trồng 1 ha chỉ cần khoảng 100gr. Hạt đu đủ nếu bảo quản trong chỗ khô, mát giữ được sức nảy mầm khá lâu.
Trước khi gieo, ngâm hạt vào trong nước có nhiệt độ từ 52-560C (3 sôi + 2 lạnh) trong 10 phút. Sau đó ươm hạt trong tro trấu, tưới nước đủ ẩm. Khi cây cao khoảng 10cm thì bắt đầu cho vào bầu. Hỗn hợp làm bầu gồm (phân chuồng hoai mục, lớp đất mặt và một ít lân). Mỗi bầu chỉ để 1 cây sinh trưởng tốt, khoảng 20 ngày có thể đem ra trồng.
Thời vụ trồng:
Trong điều kiện đảm bảo nước tưới tiêu chủ động, đu đủ có thể trồng quanh năm, nhưng tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa, khoảng tháng 4-6 dl, vừa đỡ thiệt hại do nhiệt độ, vừa đỡ chi phí tưới và thời gian cho thu trái từ tháng 2-6 dl là thời điểm thường bán được giá cao.
Cách trồng:
Đối với đất xám Tây Ninh và miền Đông Nam bộ thì cần đào hố, kích thước hố 40x40x30cm (sâu 30cm). Bón lót khoảng 200gr-500gr vôi vào hố trước khi trồng khoảng 10 ngày. Khi trồng trộn khoảng 5-8kg phân chuồng hoai mục + đất mặt + 200gr lân, trộn đều cho vào hố. Mọi lỗ giữa hố, đặt cây con sau khi đã xé bỏ bọc mủ (nilon), sau đó ém đất chặt gốc, cắm cọc cố định cây con và tưới nước.
Nếu trời nắng, có thể phải che nắng cho cây con trong vài ba ngày.
Chăm sóc:
- Đu đủ rất cần nước nhưng cũng rất sợ úng, do đó cần phải tưới cho cây trong mùa nắng và thoát nước cho cây trong mùa mưa.
- Từ 1 tuần sau khi trồng đến 1 tháng tuổi, dùng 20gr Urea + 30gr DAP/ cây/lần hoà tan lượng phân này tưới cho cây.
- Từ 1 tháng đến 3 tháng tuổi: Dùng 20-30gr Urea +30-50gr DAP/ cây, xới nhẹ quanh gốc, cách gốc 20-30cm (tránh làm đứt rễ) cứ khoảng 15 ngày bón một lần.
- Từ tháng thứ tư trở lên, bón 100-150gr 16-16-8 +30-50grKCL/cây lần, xới nhẹ quanh gốc, cách gốc khoảng 35-40cm hoặc vòng quanh tán cây. Bón một tháng một lần. Có thể dùng các loại phân khác để bón cho đu đủ nhưng cần chú ý cân đối tỷ lệ đạm, lan kali.
- Kết hợp phun phân bón lá, cần phun định kỳ cho cây 1 tháng 1 lần giúp cây sinh trưởng tốt, tăng sức chống chịu sâu bệnh.
- Làm cỏ thường xuyên để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, hạn chế nơi ẩn nấp của sâu bệnh. Có thể dùng mủ (nilon) đen hoặc rơm rạ phủ gốc để tránh cỏ dại và bốc thoát nước.
- Phòng trừ sâu bệnh: những đối tượng gây hại nguy hiểm nhất trên cây đu đủ là:
+ Rệp sáp (Coccidae).
Thường gây hại trên thân và trái. Có thể sử dụng các loại thuốc Hopsan 75ND, Supracide 40EC, Confidor 0,05 EC để phòng trị.
+ Nhện đỏ (tetranychus)
Thường gây hại vào mùa nắng, lúc cây 2 tháng tuổi trở lên. Có thể phòng trừ bằng Danitol 10EC, Nissorun 5EC, Comite 73EC để trị. Cần luân phiên đổi thuốc vì nhện đỏ rất dễ kháng thuốc. Cần chú ý phun kỹ mặt dưới lá.
+ Bệnh thối cây non: Thường xuất hiện vào mùa mưa, có thể dùng Mimyl 12,5 BHN để phòng trị.
+ Các bệnh do virus: Bệnh khảm, đốm vòng, chùn đọt, các bệnh này chưa có thuốc đặc trị, chỉ có phòng ngừa bằng cách:
· Chọn cây giống ban đầu khoẻ mạnh, không có triệu chứng bệnh.
· Theo dõi phát hiện sớm và huỷ bỏ các cây chớm bị triệu chứng bệnh.
· Bón phân tưới nước đầy đủ, tạo điều kiện cho cây phát tiển mạnh, tăng sức đề kháng chống chịu bệnh, đặc biệt là giai đoạn trước khi cây ra hoa.
· Phòng chống và hạn chế các loại côn trùng chích hút lây bệnh

Kỹ thuật canh tác cây xà lách

 
Xà lách
Cây xà lách
1) Cây con: Cây con đựơc ươm trong vỉ ươm khoảng 25 ngày thì đem trồng. Gieo trong vỉ ươm có ưu điểm là khi tròng cây con phục hồi nhanh, rút ngắn thời gian trên đồng ruộng.
2) Kỹ thuật trồng và chăm sóc
-Mật độ trồng: 9000-10. 000 cây /1000 m2
-Xử lý đất và màng phủ: Trước khi trồng xử lí đất bằng sulfat đồng +bón vôi bột, sau đó lên liếp, tưới nước và dùng màng phủ nông nghiệp (nếu màng cũ phải được xử lý bằng Bocdo) phủ lên liếp sau 3-5 ngày dùng lon có chứa than để đục lỗ theo khoảng cách định trước rồi tiến hành trồng. Qua thử nghiệm cho thấy cây con mới trồng trên liếp có phủ màng phủ nông nghiệp thời gian hồi xanh lâu hơn cây trồng trên liếp không phủ màng phủ nông nghiệp nhưng khi cây đã phục hồi thì những liếp có phủ màng, cây phát triển rất tốt, lớn nhanh, ít sâu bệnh, đất giữ nhiệt và ẩm độ tốt hơn, cỏ dại không phát triển được.
-Tưới nước: Áp dụng phương pháp tưới phun mưa hoặc tưới nhỏ giọt.
Ưu điểm của tưới phun và nhỏ giọt: tiết kiệm được nước, tận dụng tối đa phân bón, kiểm sóat được ẩm độ. hiện nay tưới tràn, tưới phun ít sử dụng vì cây phát triển kém, hao tốn nước, phân bón thất thóat nhiều, pH đất giảm.
-Phòng trừ sâu bệnh: Ưu tiên thuốc BVTV có nguồn gốc vi sinh, thuốc có thời gian phân giải nhanh, phun thuốc đúng liều lượng khuyến cáo thời gian cách ly tối thiểu bằng thời gian khuyến cáo trên nhãn thuốc, khi kiểm định dư lượng thuốc trong rau phải trong ngưỡng cho phép.
-Thời gian quay vụ 6 lần/ năm
-Thời gian thu hoạch: Sau khi trồng 25-30 ngày thì thu hoạch
-Doanh thu: 15. 000. 000 -16. 000. 000 đồng /1000 m2
-Lợi nhuận: 7. 000. 000-8. 000. 000 đồng /1000 m2
Cải Bông Xanh /Broccoli
Phương pháp bố trí vườn: chia 3 khu
+khu để và chế biến vật liệu trồng
+khu ưom cây con
+Khu sản xuất rau
* Kỹ thuật trồng
-Mùn đem về được đo và sử lý pH thích hợp sau đó trộn vôi bột, phân chuồng và NPK, đem rải trên liếp.
-Tuổi cây con được 4 tuần tiến hành trồng
-Từ trồng đến thu hoạch 2-2,5 tháng, có thể thu hoạch kéo dài trong 2 tuần
-Mật độ 40cm x40 cm (4000 cây/1000m2).
-Kỹ thuật trồng lên liếp – vun gốc.
-Sau trồng một tuần bón supelân +urê ít. bón gần gốc, bón nhẹ.
-20 ngày bón phân vi sinh +NPK kết hợp làm cỏ vun gốc
* Vườn sản xuất rau hữu cơ: Không được dùng bất cứ loại gì là hoá học.
Phương pháp này được trồng trong nhà có mái che và trồng trên giá thể để hạn chế sự phá hại của sâu bệnh và côn trùng.
Môi trường gieo trồng là mùn cưa +phân hoai mục. Chất lượng và hương vị rau được quyết định bởi môi trương dinh dưỡng, sử dụng nguồn nước sạch để tưới và tưới phun mưa (vòi tưới là loại bet nhỏ).
Hạt giống: phải nhập, các giống sản xuất sau 3 năm phải làm text lại.
Bảo quản rau: Rửa sạch rau trong nước đá lạch để giảm nhiệt độ của lá, cố định chất dinh dưỡng trong lá sau đó đưa vào kho lạnh.
-Sản xuất rau hữu cơ đựơc trồng trên giàn cao, giàn có 4 tầng, 3tầng ở trên dùng để sản xuất rau hữu cơ, tầng cuối cùng trồng an toàn rau sản xuất theo phương pháp này không sử dụng phân bón thông thừơng mà dinh dưỡng dùng cung cấp cho cây là rong biển, nước chiết thịt bò
-Môi trường trồng rau hữu cơ phải nhẹ như tro sơ dừa, chất hữu cơ, mùn cưa.
-Nguồn nước tưới phải sạch vi sinh vật.
-Sử dụng hệ thống tưới phun (dùng bet nhỏ).
-Hệ thống đèn chiếu bổ sung những tầng dưới thấp, tùy phương thức trồng thiết kế vườn trồng phù hợp như xà lách, ợt khi gieo phủ, khi nẩy mầm dỡ ra.
Sản xuất khoai tây bằng nuôi cấy mô
Nhân giống từ đỉnh sinh trưởng, đài hoa, lá, hạt,…
Tạo cây mô: Cây mô chủ yếu được dùng để nhân giống
Khoai tây đựơc tách đỉnh sinh trưởng đưa vào ống nghiệm có chứa môi trường MS có chứa chất kích thích sinh trưởng để nuôi cấy, sau khi cây phát triển thành cây hoàn chỉnh thì đem cấy chuyền bằng cách cắt từng đoạn thân dài 1-1,5 cm có chứa 1 lá để nuôi cấy trong ống nghiệm khi phát triển thành cây thì đem tập nắng 10-15 ngày sau đó trồng trong chậu, chăm sóc 10-15 ngày có thể cắt chồi làm mạ giống. Tốc độ nhân trong 1 năm có thể đạt 106 cây con.
Nhà mạ:
1/ Nhà mạ cấp một:
Nhà kính điều kiện tốt, môi trường để ươm mạ giống cấp 1 gồm đất, phân hữu cơ tỷ lệ 1:1 đã được khử trùng bằng fotmon, hơi nước, cây con được ươm trong nhà này gọi là mạ cấp một.
2/ Nhà mạ cấp hai:
Điều kiện không nghiêm ngặt bằng nhà mạ cấp một, cây con được ươm trong bầu đất, bầu ươm cây con được quấn bằng lá chuối, đường kính 1-1,5 cm, môi trường gồm đất và phân hữu cơ sau khi ươm 14-15 ngày thì có thể đem trồng và sau 4 tháng cho thu hoạch.
-Giống khoai tây O7, vỏ màu hồng, trồng 3 tháng thu hoạch.
-Giống khoai tây PO3, vỏ trắng, kích thước nhỏ, trong vườn ươm thường có bệnh héo tươi nên xử lý đất kỹ.
Kỹ thuật trồng và chăm sóc
1) Thời vụ trồng: khoai tây ở Đà Lạt được trồng quanh năm nhưng vụ tháng 9-10 là cho năng suất cao nhất và có thể trồng bằng củ, bằng cây cấy mô, bằng hạt. Thời gian sinh trưởng của khoai từ 90-100 ngày, năng suất từ 20-30 tấn/ ha
2) Làm đất, lên liếp:
-Mùa nắng: Trồng luống chìm, khi trồng thì cào đất trong luống ra tạo thành luống chìm.
-Mùa mưa: trồng luống nổi.
3) Mật độ trồng: tùy theo mùa, mùa mưa trồng thưa, mùa nắng trồng dày nhằm tránh rửa trôi và bốc thóat hơi nước.
4) Phân bón: Bón phân 5 đợt, đợt đầu bón sau khi trồng được 10 ngày và kết thúc đợt bón cuối cùng sau khi trồng 40 ngày.
5) Phòng trị bệnh:
-Bệnh do vi khuẩn: Không có thuốc trị.
Biện pháp phòng bằng cách sử dụng giống kháng, chọn giống trên những ruộng không có mầm bệnh, vệ sinh đồng ruộng.
-Mùa mưa thường bị bệnh mốc sương do nấp phytopthora gây ra nên phải xịt thuốc định kỳ.
-Mùa khô: Bị bệnh đốm vằn và ruồi đục lá, ngoài ra còn bị sâu xanh hại lá.
Phân biệt khoai tây trồng bằng cây mô, bằng củ và bằng hạt: Ruộng cây trồng bằng cây mô đồng đều hơn trồng bằng củ và bằng hạt, cây bằng hạt những lá dưới gốc chưa chia thùy, cây trồng bằng củ thân cây mập phân nhánh nhiều.
Cà tím (Cà nâu).
-Giống:
Nên trồng cà tím địa phương năng suất cao và chống bệnh khá. Có thể trồng giống Thán Lan (màu tím đậm), tuy bị nhiễm bệnh nhiều hơn.
Cà tím được gieo qua liếp ươm, sau đó chuyển cây non ra trồng trên ruộng.
Lượng hạt giống để trồng cho 1.000 m2: 30-40 gram, hạt cần được sử lý trước khi gieo bằng nước nóng 54oC hoặc bằng một trong các loại thuốc: Rovral, Aliette, Zineb...
- Thời vụ:
+Vụ Đông xuân có thể trồng từ tháng 9 đến tháng 3 dương lịch năm sau.
+Vụ Hè thu có thể trồng từ tháng 4 đến tháng 7.
Lưu ý:
Vụ Hè thu nên tránh trồng vào tháng 5,6 vì thường bị sâu đục quả gây hại nặng. Vụ Đông xuân không nên trồng vào tháng 12,1 vì củng thường bị sâu đục quả gây hại vào thời gian thu hoạch.
- Chuẩn bị đất:
Cà tím đòi hỏi đất phải tơi xốp, nhiều mùn và dễ thoát nước. Nên phơi ải đất vài tuần trước khi trồng.
Đất cần được xử lý bằng vôi và tro bếp, lượng bón 50 kg vôi, 60 kg tro bếp cho 1.000 m2.
Liếp ươm củng như liếp trồng cần được vun cao 20-25 cm, vụ đông xuân có thể không cần lên liếp.
Không trồng liên tục nhiều vụ cà tím trên cùng một chân đất và không được trồng cà tím trên đất đã trồng các loại cây họ cà: Ớt, cà chua, thuốc lá... nên luân canh với các loại cây trồng họ khác.
- Khoảng cách trồng:
Trên liếp ươm nên gieo hàng với khoảng cách 4 cm x 4 cm.
Trên liếp trồng 1 hàng, hàng cách hàng 1m, cây cách cây 60 cm. Mùa mưa có thể trồng thưa hơn.
Có thể trồng xen với cây tỏi hoặc các loại cây rau khác họ, ngắn ngày, vào giữa 2 hàng cà tím.
- Bón phân: (Tính cho 1.000 m2).
+Bón lót: Phân chuồng hoai mục 3-4 tấn, Super lân 35-40kg, có thể bổ sung thêm Urê 5-6kg, KCl 3-4kg.
+Bón thúc:
· Lần 1 (7-8 ngày sau khi trồng): urê 5-6kg; KCl 3-4kg; 20kg NPK (16-16-8).
· Lần 2 (25-30 ngày sau khi trồng): urê 7-8kg; KCl 4-5kg; 20kg NPK (16-16-8).
· Lần 3 (45-50 ngày sau khi trồng): urê 8-10kg; KCl 5-6kg; 20kg NPK (16-16-8).
Nên bón thúc thêm vào sau thu hoạch đợt quả đầu tiên urê 5kg, KCl 5kg và khoảng 10kg phân NPK (16-16-8)
- Phòng trừ sâu bệnh:
Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp như: Vệ sinh đồng ruộng, luân canh với cây trồng khác họ cà, lưu ý việc sử dụng thuốc đúng kỹ thuật sẽ mang lại hiệu quả cao.
Cần chú ý các loại sâu, bệnh hại chính sau đây: Sâu đục trái, rầy xanh, rầy trắng, bọ trĩ, sâu đo xanh, bệnh héo rũ, bệnh phấn trắng, bệnh thối trái.
+Đối sâu đục trái: Phun thuốc vi sinh, một trong các loại thuốc nhóm BT (Dipel, Biocin...), dùng luân phiên với thuốc hóa học như: Match, Pegasus,... Có thể dùng chế phẩm có nguồn gốc thảo mộc (Rotenone).
+Đối với rầy xanh, rầy trắng: Dùng một trong các loại thuốc: Actara, Trebon ...
+Đối với các bệnh: Nên phun các loại thuốc: Top, Thio-M, Ridomil MZ, Score, Validacin ...
Lưu ý: Khi dùng thuốc bảo vệ thực vật phải đảm bảo nguyên tắn tắc “4 đúng“ là: Đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng lúc, đúng cách, đồng thời đảm bảo thời gian cách ly.
- Thu hoạch: Cứ 3-4 ngày thu một lứa quả, kết hợp ngắt bỏ các quả bị sâu đục.
Cải bắp, cải bông
- Giống:
Các giống đang phổ biến hiện nay:
+Cải bắp: KK Cross, NS Cross trồng chính vụ, Summer, A76 trồng trái vụ.
+Cải bông: Các giống con voi, Trái bầu 75,T6 (Tropical).
Có thể nhân giống bằng hai cách:
Nhân giống vô tính:
Lấy chồi 3 – 4 lá, tách giâm khi ra rễ lá mới đem trồng.
Muốn có số lượng giống nhân vô tính nhiều thì ngắt đọt cho nhẩy chồi rồi tách đem giâm tiếp.
Nhân giống hữu tính:
Từ gốc đã thu hoạch để ra bông lấy hạt. Thường ở nước ta ít để giống được bằng hại vì nhiệt độ cao không thích hợp.
Gieo hạt:
+Cần xử lý hạt giống trước khi gieo bằng các loại Rovral, Benlate C, Aliette để phòng bệnh chết cây con và các bệnh khác (5g thuốc/ 100g hạt giống).
+Gieo hạt giống qua liếp ươm: 35-40g hạt cho cây con đủ trồng 1.000m2. Có thể gieo bầu đất: 2 hạt/ bầu. Tuổi cây con: 25-30 ngày, tương đương 5-6 lá thật. Trước khi nhổ cấy cần tưới ướt đất bằng phân DAP pha loãng: 30g/10 lít nước.
Nếu cây con có sâu tơ thì phun thuốc Biocin, Delfin,...
- Thời vụ: Thời vụ gieo trồng thích hợp nhất là từ tháng 10, 11 đến tháng 3,4 dương lịch năm sau. Cần sắp xếp hợp lý để tránh 2 lứa sâu tơ rộ vào tháng 12 và cuối tháng dương lịch.
- Chuẩn bị đất:
Bắp cải và bông cải thích hợp với đất thịt nhẹ, cao ráo, dễ thoát nước. Đất cần được phơi ải và cày bừa kỹ trước khi gieo trồng.
Đồng ruộng cần được dọn sạch tàn dư cây trồng, rải vôi bột để hạn chế nguồn bệnh hại (100kg cho 1.000 m2 đất).
Liếp rộng 80-100 cm, cao 20 cm. Mùa mưa cần che phủ đất bằng rơm hoặc màng phủ nylon để tránh đất cát bám lên cây làm cây bị nhiễm bệnh và hạn chế cỏ dại.
- Khoảng cách trồng: Trồng 2 hàng trên liếp, khoảng cách 60 x 50 cm.
- Bón phân (Tính cho 1.000m2).
+Bón lót: Phân chuồng hoai mục: 2-2,5 tấn, super lân: 25 kg, KCl: 5kg.
+Bón thúc:
· +Lần 1: 8-10 NST hòa 5kg urê tưới.
· +Lần 2: 22-25 NST bón urê: 10kg; 20kg NPK (16-16-8).
· +Lần 3: 40 NST bón urê: 5kg; KCl: 5kg.
Riêng cải bông phải bón trước khi thu hoạch ít nhất 7-10 ngày. Bón phân qua tán lá hoặc giữa hàng cây kết hợp xới xáo, làm cỏ.
-Lưu ý: Nếu dùng phân bón lá thì rút bớt số phân bón thúc.
- Phòng trừ sâu bệnh:
Áp dụng các biện pháp tổng hợp như: Vệ sinh đồng ruộng, luân canh với cây lúa nước, thường xuyên thăm đồng,ngắt ổ trứng và bắt sâu khoang tuổi nhỏ, nhổ bỏ cây bị thối nhũn...có hiệu cao trong phòng ngừa sâu, bệnh hại cải bắp, cải bông.
+Các loại sâu gây hại chính là: Sâu tơ, sâu khoang, rầy mềm,...
+Các loại bệnh chính là: Bệnh chết rạp cây non, bệnh thối nhũn.
Khi sâu, bệnh có mật số cao có khả năng gây hại, dùng thuốc bảo vệ thực vật như sau:
+Đối với sâu hại:
Sâu tơ: Dùng các loại chế phẩm có nguồn gốc BT như Delfin, Dipel, Xentari, Biocin... hoặc dùng các thuốc khác như: Success, Ammate, Orthene. Lưu ý dùng luân phiên các loại thuốc.
Sâu khoang: Có thể dùng thuốc Match, Pegasuu, Success, Secsaigon. Dùng các loại chế phẩm vi sinh như NPV,Vi-BT, hoặc thảo mộc như Rotenone hoặc Neem.
Rầy mềm bắp cải: Có thể dùng thuốc Trebon, Actara, Ofunack, Tango, Confidor,...
+Đối với bệnh hại:
Bệnh chết cây con: Khi xuất hiện thì phun một trong các loại thuốc sau: Rovral, Benlate C, Ridomil MZ, Validacin...
Bệnh thối nhũn vi khuẩn: Dùng các loại thuốc như Kasuran, Kasumin, Poner,...
- Thu hoạch:
Cải bắp: Sau khi trồng khoảng 60-65 ngày là có thể thu hoạch
Cải bông: Sau 45-50 ngày, thu những bông vừa ngả màu nhạt hay các tai bông phía ngoài bắt đầu xòe rộng.
Cải ngọt, cải xanh
- Giống:
Mùa khô có thể sử dụng một số giống nhập của Tung Quốc và Thái Lan, mùa mưa giống TG1.
Xử lý hạt giống trước khi gieo bằng thuốc Rovral, Aliette hoặc Benlate C (5g cho 100 hạt giống).
Gieo qua liếp ươm: 20g hạt giống đủ trồng cho 100 m2, tuổi cây con 18-19 ngày. Có thể gieo hạt giống trực tiếp rồi tỉa dần: 40g cho 100 m2 (nếu gieo theo hàng), 60g hạt cho 100 m2 nếu gieo vãi. Sau khi gieo phủ 1 lớp đất mỏng đã trộn phân chuồng hoai, phủ 1 lớp rơm mỏng. Mùa khô cần tưới đủ ẩm .
Trước khi nhổ cây con đem trồng cần tưới ướt đất bằng phân DAP pha loãng (30g/10 lít nước).
- Thời vụ:
Cả 2 loại cải có thể trồng quanh năm, nhưng trong mùa khô cho năng suất cao hơn. Nếu trồng trong tháng 12 đến 1 năm sau cần theo dõi chặt chẽ sâu hại để phòng trừ kịp thời. Mùa mưa làm giàn che để bảo vệ cây tránh dập lá.
- Chuẩn bị đất:
Có thể trồng cải ngọt, cải xanh trên nhiều loại đất khác nhau, miễn là được tưới tiêu tốt. Đất cần được phơi ải 8-10 ngày trước khi lên liếp.
Liếp rộng 80-100 cm, cao 10-15 cm, mùa mưa lên liếp cao, khoảng 20cm. Nên sử lý đất trước khi gieo trồng bằng cách bón vôi bột 5-6kg hoặc 100g Vimoca cho 100 m2 hoặc dùng Sincocin để trừ tuyến trùng.
Mùa mưa cần che phủ đất bằng rơm hoặc nylon để hạn chế cỏ dại và tránh đất cát bám lên cây dễ nhiễm các loại sâu bệnh.
Không nên trồng liên tục nhiều vụ rau có cùng họ cải trên cùng một chân đất.
- Khoảng cách trồng: Tùy theo mùa vụ và giống có thể trồng khoảng cách 15 x 15cm hoặc 15 x 20cm.
- Bón phân (Tính cho 1.000m2):
+Bón lót: Phân chuồng hoai mục: 1,3-1,5 tấn, Super lân 15kg, KCl: 30kg, vôi: 100kg.
+Bón thúc:
· +Lần 1: Sau 8-10 NST phân urê hòa nước tưới khoảng 5kg.
· +Lần 2: Sau 13-15 NST dùng 2kg NPK (16-16-8) hòa 40 lít nước tưới cho cải.
Chú ý: Cần giảm bớt lượng phân đạm khi gần thu hoạch. Ngưng bón phân đạm trước khi thu hoạch 5-7 ngày.
- Phòng trừ sâu bệnh:
Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với bọ nhảy có hiệu quả cao như vệ sinh đồng ruộng, phơi ải, che phủ bạt nylon, luân canh với cây trồng khác họ cải.
-Một số sâu bệnh hại chính trên cây cải ngọt-cải xanh như: Bọ nhảy, sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh da làng, ruồi đục lá, bệnh chết cây con, bệnh thối nhũng vi khuẩn.
-Trong mùa mưa nên trồng trong nhà lưới giúp cho cây có khả năng chống bệnh tốt hơn.
-Khi sâu bệnh có mật số cao có thể gây hại dùng thuốc bảo vệ thực vật như sau:
+Đối với bọ nhảy: Dùng chế phẩm nhóm BT có hiệu quả cao, hoặc có the73 dùng các loại thuốc Success, Pegasus, Ammate,...
+Đối với sâu khoang: Có thể dùng thuốc có gốc Pyrethroid như SecSai gon, Decis. Dùng các loại chế phẩm vi sinh như NPV, Vi-BT, hoặc thảo mộc như Rotenone hoặc Neem.
+Đối với sâu tơ: Dùng các loại chế phẩm có nguồn gốc BT như Delfin, Dipel, Aztron, Biocin... hoặc dùng các thuốc Success, Ammate, Sec Saigon, Orthene. Lưu ý dùng luân phiên các loại thuốc.
+Đối với ruồi đục lá: Có thể dùng thuốc như: Match, Vertimec, Trigard,...
+Đối với bệnh: Bệnh chết cây con, thối bẹ có thể dùng Validacin, Ridomil MZ, Dithan M-45. Bệnh thối nhũn dùng các loại thuốc như Kasuran, Kasumin, Poner, BAH,...
- Thu hoạch:
Thời điểm thu hoạch khi cây đủ tuổi, bảo đảm thời gian cách ly của thuốc trừ sâu bệnh.

Kỹ thuật canh tác cây ớt

 
Đất trồng ớt tốt nhất là được luân canh với lúa, bắp,không nên trồng trên đất mà trước đó đã trồng cà chua, ớt, thuốc lá, dưa leo để hạn chế mầm bệnh.
Trồng ớt
Giống: Các giống đã đưa vào sản xuất gồm có:
1-Giống ớt cay F1 số 20 của công ty cổ phần Giống cây trồng miền Nam.
2-Công ty Trang nông gồm có các giống: Ớt chỉ thiên sư tử Thái lan, ớt chỉ thiên (F1) TN16 Hàn quốc. Ớt (chỉ địa) Chi li Trang nông (F1) Hàn quốc. Giống (chỉ địa) TN48 (F1), TN49 (F1) (chỉ địa), TN65 (F1) (chỉ địa). Giống Sư tử Yellow Star 099 Lion seeds Thái lan (chỉ địa). Giống TN181 (F1) Thái lan (chỉ địa). Giống TN129 Hàn quốc (chỉ địa). Giống Chỉ địa Sư tử Lion seeds Thái lan
Thời vụ trồng: Có thể trồng ớt quanh năm, trong đó vụ Đông -Xuân và Hè -Thu là 2 vụ chính.
Kỹ thuật trồng:
1/-Làm đất: Đất trồng ớt tốt nhất là được luân canh với lúa, bắp,không nên trồng trên đất mà trước đó đã trồng cà chua, ớt, thuốc lá, dưa leo để hạn chế mầm bệnh.
Đất được cày xới, phơi đất kỹ, san đất tạo độ bằng phằng để tránh đọng nước. Cày lên luóng với chiều rộng luống là 1m, cao 20-25cm. Nên dùng màng phủ đất để vừa hạn chế cỏ dại, sâu bệnh vừa giữ nước, giữ phân tốt.
2/-Gieo hạt: Cần 200g - 250g hạt giống cho 01ha. Đất liếp ươm phải đảm bảo tơi xốp, đủ ẩm. Liếp ươm rộng 1m, rải Basudin để ngừa kiến và tuới Rovral hoặc Zineb để ngừa nấm bệnh hại cây con. Gieo hạt khỏa sơ đất để lấp hạt, trên phủ 1 lớp rơm rạ mỏng để khi tưới không bị xói đất. Nếu có điều kiện nên che bằng vòm lưới nilon.
Cây ớt được chăm sóc trong vườn ươm khoảng 30-40 ngày tuổi (có khoảng 8 lá thật) thì bứng ra ruộng trồng. Trước khi bứng, không nên tưới nước đẫm (vì khi bứng dễ bị bể bầu đất) và phun thuốc ngừa sâu bệnh.
3/-Trồng ngoài ruộng:
Luống trồng ngoài đồng có bề rộng 1m, trồng 2 hàng, trồng theo kiểu nanh sấu. Cây cách cây 55-60cm. Mật độ 24.000cây/ha. Xử lý đất bằng Basudin ngừa mối, kiến và Copper B hay Benlat C để ngừa bệnh.
4/-Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh:
a-Bón phân:
Lượng phân bón dùng cho 1 ha theo tỷ lệ: 170N - 170P2O5 - 85K2O tương đương 1000kg -1200kg NPK (16-16-8)
*Bón lót: Trước khi lên luống, bón lót 300 kg vôi /ha, 5-10 tấn phân chuồng hoai + 400kg NPK 16-16-8.
*Bón thúc: cứ 20 ngày bón 1 lần với lượng phân là 150kg NPK 16-16-8
*Định kỳ giữa 2 lần bón có thể sử dụng thêm phân bón lá Komix, HVP để phun cho ớt. Khi cây đã mang trái thì phun thêm phân CaCl2 cứ 7-10 ngày/lần để phòng ngừa bệnh thối phần cuối của trái do thiếu Can-xi.
Do ớt có thời gian thu hoạch dài nên sau mỗi đợt thu hoạch cần phải bón thúc phân khoảng 20kg Urê + 20 kg Kali và phun thêm phân bón lá.
b-Tưới, tiêu nước: Mùa nắng cần phải tưới đảm bảo đủ ẩm thường xuyên, cũng không nên tưới quá ẩm. Mùa mưa cần có hệ thống rãnh thoát nước chống úng.
c-Làm cỏ: Thường xuyên làm cỏ không để cỏ dại cạnh tranh dinh dưỡng của cây và hạn chế nơi trú ẩn của sâu bệnh.
d-Cắm cọc: Cây ớt mang nhiều trái nên dễ nặng đầu, cần cắm cọc cột dây để giữ cây ớt đứng thẳng.
e-Phòng trừ sâu, bệnh:
*Bệnh héo cây: do nấm Sclerotium roflsii : gây ra. Triệu chứng điển hình là lá bị héo, phần gốc sát mặt đất bị khô đen, phủ một lớp sợi nấm trắng và các hạch nấm tròn màu nâu. Để phòng trừ cần phơi ải đất, trồng luân canh với các loại cây trồng khác họ, phun các loại thuốc Anvil 5SC, Ridomil 240EC/ND.
*Bệnh héo rũ do nấm Fusarium hoặc vi khuẩn gây ra. Dùng các biện pháp canh tác như trên để phòng ngừa. Có thể dùng các loại thuốc gốc đồng như: Copper B 75 WP, Kasuran 50WP, Champion 77WP để trị.
*Bệnh thán thư (Thối trái): Do nấm Colletotricum gây ra. Bệnh thường xuất hiện trong mùa mưa. Khi bệnh mới xuất hiện có thể dùng các loại thuốc; Ridomil 240EC/ND, Anvil 5SC, đồng thời hái và tiêu hủy trái bị bệnh.
*Sâu xanh (Heliothis amigera) thường đục lỗ ở phần đầu trái ớt, nơi tiếp giáp với đài hoa trong giai đoạn trái xanh.
Biện pháp phòng, trị: Cắt tỉa cành cho thông thoáng, bắt sâu bằng tay. Có thể phun một trong các loại thuốc sau: Atabron 75EC, Cascade 5EC, Cyper 25ND, Fastac 5EC, Hopsan 75ND, Lanate 40SP. Chú ý phun khi sâu còn nhỏ và luân phiên thuốc đề phòng sâu kháng thuốc.
*Bọ trĩ: Thường tập trung ở đọt non, mặt dưới lá non để chích hút làm đọt và lá non quăn queo, rụng hoa, trái non, chúng còn là môi giới truyền bệnh virus. Có thể dùng Confidor 0,05EC, Pegasus 500EC, Mospilan 3EC.
*Rệp: Dùng Bassa 50EC, Trebon 10EC, Cofidor 0,05EC. Supracide 40EC. Dùng luân phiên thuốc kết hợp với tỉa cành, tưới nước và bón đầy đủ phân bón.
*Nhện đỏ: Sống tập trung ở dưới lá bánh tẻ và lá già, chích hút nhựa làm lá vàng, cháy khô xơ xác.
Dùng Cascade 5EC, Pegasus 500EC, Comite 73EC, phun kỹ mặt dưới lá khi nhện mới xuất hiện và kết hợp các biện pháp phòng trị bọ trĩ và rệp.
h-Thu hoach:
Sau khi gieo khoảng 110 ngày thì bắt đầu thu hoạch. Ớt thường có đặc điểm chín tập trung nên thuận tiện cho thu hoạch. thu hạch khi trái ớt có màu xanh ửng hồng, không nên để ớt quá chín mới thu hoạch.

Kỹ thuật trồng cà chua

 
Cây cà chua
I.GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG CÀ CHUA:
1. Cà chua lai Red crown 2509 của công ty Cổ phần Giống miền Nam Thuộc dạng phát triển vô hạn, có sức chống hạn tốt, trồng được cả trong mùa nắng và mùa mưa, dễ ra hoa đậu trái; bắt đầu thu hoạch khoảng 80-85 ngày sau gieo và kéo dài đến 30-40 ngày; quả tròn, màu đỏ đẹp, ít hạt, trung bình từ 10-11 trái/Kg; trái cứng, dễ vận chuyển đi xa và bảo quản được lâu. Năng suất trung bình 30-40 tấn/ha.
2.Giống F1, nhập nội:
Chống chịu sâu bệnh, chịu nóng, chịu mưa tốt nên trồng được nhiều vụ trong năm. Dễ ra hoa kết trái, năng suất cao, trái cứng dễ vận chuyển và để lâu được. giống F1 phải thâm canh mới cho năng xuất cao.
II. KỸ THUẬT TRỒNG:
1. Thời vụ: Trong điều kiện khí hậu Đông Nam bộ, cà chua có thể trồng quanh năm, tuy nhiên có 3 vụ trồng phổ biến:
· Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10-11 dương lịch (dl), đầu mùa khô và thu hoạch vào đầu tháng 2 dl, vụ này cà tăng trưởng trong mùa khô ráo, ấm áp nên phát triển tốt và cho năng suất cao. Nếu gieo sớm trong tháng 10 khi trời còn mưa, nên làm giàn che cây non để tránh hao hụt.
· Vụ xuân hè:Gieo tháng 12-1 và thu hoạch tháng 3-4 dương lịch. Cà chua tăng trưởng hoàn toàn trong mùa khô nhưng ra hoa kết trái trong những tháng nóng nhất trong năm do đó phải chọn những giống có khả năng chịu nóng và chống bệnh tốt.
· Vụ Hè Thu: Gieo tháng 6-7 và thu hoạch tháng 9-10 dl. Cà chua tăng trưởng hoàn toàn trong mùa mưa, do đó đất trồng phải thoát nước tốt. chọn giống có khả năng chịu mưa, chống bệnh tốt, không rụng hoa, trái cứng, không nứt và có màu đỏ đẹp khi chín.
2. gieo hạt, ươm cây non: lượng giống cần cho 1 ha khoảng 70-80gr, diện tích đết gieo khoảng 250m2.
· Gieo trên liếp:Chọn đất tốt, cao ráo, dễ thoát nước để làm liếp ương, có thể làm giàn cách mặt đất khoảng 0,5-1m, dùng phên tre lót lá chuối, đổ đất đầy khoảng 10-15 cm để làm nền rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây non và ngăn được côn trùng trong đất và súc vật phá hại. Bón khoảng 2Kg phân hữu cơ hoai mục, 20gr Urê, 50 gr Super lân và 30gr phân KCL cho mỗi m2 đất ươm. Trộn đều phân vào đất, làm bằng mặt, khử đất với dung dịch Roval hay Benlate 1-2% và rải thuốc trừ kiến như Basudin, Diaphos, Padan trước khi gieo. Khi cây có 2-3 là thật, tỉa bỏ cây xấu, cây mọc chậm và cây sâu bệnh chừa khoảng cách cây từ 5-7cm. Khi cây có 4-5 lá thật thì nhổ cấy ra đồng. Cách gieo này đơn giản, dễ làm nhưng cây con bị đứt rễ khi nhổ cấy nên chậm phục hồi và tốn công tưới nước chăm sóc sau khi cấy. Để hạn chế cây bị đứt rễ, nên tưới nước dẫm lên liếp trước khi nhổ từ 12-24 giờ.
· Gieo trong bầu:Bầu bằng bọc nilon hoặc lá dừa lá chuối, có kích thước 4x7cm. Trộn đất, phân mục và tro trấu theo tỉ lệ 2:1:1. Xếp bầu thành hàng khít nhau trên liếp ươm hay trên giàn, tưới cho ướt đều rồi gieo hạt. Có thể gieo hạt thật dày trên liếp trên diện tích nhỏ, khi cây non khoảng 2 lá thật thì cấy vào bầu. Gieo bầu cần hạt giống có tỉ lệ nẩy mầm cao giúp tiết kiệm được 10% hạt giống và khi đem ra đồng cấy cây nhanh hồi phục. Trong vườn ươm nên phun ngừa thuốc trừ bệnh cho cây non khi cây non được 2 lá thật và trước khi cấy vài ngày giảm tưới nước để cây con cứng cáp, tăng khả năng chống chịu điều kiện bất lợi khi ra đồng.
3. Sửa soạn đất trồng:
· Chuẩn bị đất, lên luống: Đất phải được cày bừa thật kỹ, tơi xốp. Nếu đất ruộng phải sắn mương, lên luống. Đất cao, thoát nước không cần phải lên luống. Sau khi cày ải phân hàng, đánh rãnh bón phân và trồng.
· Khoảng cách và mật độ: Thay đổi tuỳ theo giống, mùa vụ:
- Trồng hàng đơn: Áp dụng cho giống cà chua vô hạn, có làm giàn, thâm canh cao và có tỉa cành, bấm ngọn. Khoảng cách hàng 1,2-1,4 m. Khoảng cách cây 20-40cm. Mật độ khoảng 17000-27000 cây/ha. Sử dụng loại màng phủ nông nghiệp loại 90cm phủ lên luống để hạn chế cỏ, sâu bệnh, rửa trôi phân và giử ẩm tốt.
- Trồng hàng đôi: Áp dụng cho cà chua sinh trưởng hữu hạn, không làm giàn và ít thâm canh, luống rộng khoảng 1m, rãnh 30-40cm, trồng 2 hàng/luống, cách nhau 60cm. Khoảng cách 50-60cm. Mật độ trồng khoảng 24000-28000 cây/ha. Mùa khô thường trồng dày, mùa mưa trồng thưa. Sử dụng loại màng phủ có kíach thước 1,2m để phủ lên luống.
4. Cách trồng:
Trồng vào buổi sáng hoặc chiều mát, tưới đẫm sau khi trồng. trồng khi cây non được 4-5 lá thật (15-20 ngày sau gieo). Chuẩn bị lỗ trồng trước khoảng 1 ngày, khi trồng tháo bỏ bầu nilon hoặc bầu lá xong mới bỏ cây non xuống lỗ. Lấp đất kỹ quanh gốc và tưới nước sau khi trồng.
5. Chăm sóc:
· Phân bón: Lượng phân bón thay đổi tuỳ theo đất, đất cao bón nhiều phân hơn đất ruộng. Thông thường đối với đất cao, để có năng suất cà chua từ 45-50 tấn/ha, người ta sử dụng phân bón 200-400kg N+180-300 kg P2O5+ 150-200kg K2O. Lượng phân bón khuyến cáo cho các giống cà chua F1 (NS 30-35 tấn/ha) là 600-800kg 16-16-8 + 220-250kg Urê + 100-120kg KCL hay 400kg Urê + 600-800kg Super lân + 150-200 kg KCI.
· Cách bón:
Loại phân
Khối lượng
(kg)
Bón lót (kg)
Tưới đậm (kg)
Bón thúc (kg)
Lần 1 (15-20NSC)
Lần 2 (35-40NSC)
Lần 3 (60-65NSC)
Lần 4 (70-80NSC)
Phân chuồng
10.00010.000
Vôi500500
Phân 16-16-8600200200
Urê220 20 100100
Phân KCL100 204040

· Làm cỏ: Làm sạch cỏ trước khi trồng, dùng rơm rạ phủ đất để hạn chế cỏ mọc. trường hợp thiếu công lao động mà gốc cỏ nhiều, có thể dùng một trong các loại thuốc sau dây: Whips, Nabu, Sencor, Onecide, liều dùng theo khuyến cáo.
· Tưới nước:Cà chua cần nước nhiều trong giai đoạn tăng trưởng đầu, khi cây đậu trái và trái phát triển. Tưới theo rãnh hoặc tưới phun. Cung cấp nước điều hoà cho cây làm giảm hiện tượng nứt trái và giảm thối đít trái do thiếu can xi.
· Tỉa nhánh, lá, trái:Tỉa chồi nhánh cho cà chua có làm giàn là một trong những kỹ tiên tiến để dinh dưỡng tập trung nuôi trái, trái to đol62ng điều và mau chín; chăm sóc và thu hái dễ dàng. Có hai cách tỉa:
+ Tỉa tất cả các nhánh chỉ để thân chính, bấm ngọn khi thân chính đạt được số chùn hoa nhất định, cách này áp dụng cho ruộng trồng dầy.
+ Tỉa nhánh chửa thân chính và nhánh dưới chùm hoa thứ nhất. Bấm ngọn khi thân chính và nhánh đạt chùm hoa nhất định (tỉa nhánh thực hiện khi mầm nhánh còn non để không làm ảnh hưởng đến thân và nhánh còn lại).
+ Tỉa trái: Số trái/chùm cùng số chùm hoa trên cây có thể điều chỉnh theo mong muốn. Nếu cà chua cung cấp cho thị trường cao cấp đòi hỏi kích cỡ trái phải đồng đều, do đó cần tỉa bỏ những trái nhỏ, trái sâu bệnh để tập trung dinh dưỡng.
· Làm Giàn: Trồng cà chua trong mùa khô hoặc giống vô hạn, thường phải làm giàn, tạo điều kiện cho cây hưởng ánh sáng mặt trời và dễ chăm sóc. Có 2 cách làm giàn: làm giàn chữ nhân (X) hay làm giàn ô vuông, có thể dùng dây nilon để giảm bớt cây chèo.
· Phòng trừ:
+ Sâu vẽ bùa: Thành trùng và những con ruồi nhỏ màu đen, đẻ trứng trên lá, nở ra vòi, đục lòn giữa hai biểu bì lá thành những đường hầm ngoằn ngèo, làm khô lá, giảm diện tích quang hợp. Có thể sử dụng thuốc Ofunack, Fenvalerate, Polytrin, Sumicidin, Trigar để diệt trừ.
+ Rầy mềm: Côn trùng gây hại quan trọng trong mùa nắng. Chích hút đọt non làm cho đọt quăng queo, chảy nhựa, tạo môi trường cho nấm phát triển.
Phòng trừ: Tỉa cành nhánh cho thoáng, kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, phát hiện có phải phun thuốc ngay. Có thể sử dụng Danitol, Vibasa, Trebon, Oncol, Hopsan, vidithoate.
+ sâu xanh da láng: Sâu non màu xanh tối với nhiều sọc sáng trên lưng, có 2 sọc rộng và sậm màu hơn ở bên hông. Khi sâu lớn, mặt lưng có màu xanh và trơn láng, bụng có màu nhạt hơn, thường là màu vàng. Sâu non mới nở ăn phá lá, sâu trưởng thành ăn khoét từng lỗ trên trái xanh. Cần phát hiện sớm, diệt trứng và sâu non khi tuổi còn nhỏ, đánh tỉa lá gốc, lá che trái để cây thông thoáng. Có thể dùng các loại thuốc Mimic, Atabron, baythroid, Selecron, Regent, BT Xen tari, Lanante.
+ Sâu đục trái: Phá trên nhiều loại cây trồng (bắp, ớt, đậu nành, đậu xanh, đậu đũa, thuốc lá, cà tím…) làm hư và thối trái, nếu nặng có thể làm giảm năng suất 70%. Bướm nở trứng trên lá non hoặc hoa, sâu non có đầu đen, trên lưng có chấm đen ở mỗi đốt, sâu lớn có màu thay đổi từ xanh đến xám, nâu nhạt và có sọc dọc thân. Sâu cắn phá các búp non, hoa, đỉnh sinh trưởng làm rỗng thân và rụng trái. Khi trái còn non, sâu thường đục ở cuống vào giữa trái, vết đục gọn, sâu đục đùng phân ra ngoài.
Phòng trừ: Không trồng gần hoặc sau các cây trồng ký chủ, cày lật đất phơi ải để diệt nhộng, cắt tỉa cành lá, ngắt bỏ trái sâu để tránh sâu ẩn nấp. khi sâu còn nhỏ có thể dùng các thuốc: Sherpa, Sherzol, supracide, Sumi-Alpha, Lannate, Pegasus, sử dụng luân phiên với các thuốc sinh học như Delfin, Dipel, Xentari để hạn chế sâu kháng thuốc.
+ Tuyến trùng: Gây hại trên rễ làm rễ sưng, phát triển kém, cây tăng trưởng kém, vàng vọt, dễ bị nhiễm bệnh. Tuyến trùng gây hại trong điều kiện đất ướt không thoát nước. Dùng giống kháng, trồng luân canh với lúa, bắp, dùng thuốc xử lý đất.
· Bệnh hại:
+Bệnh héo vi khuẩn: Chủ yếu là do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, gây hại trên nhiều loại cây trồng khác, tồn tại lâu dài trong đất, lan truyền trong nước tưới. Xâm nhập vào cây qua các vết thương và di chuyển trong bó mạch. Bệnh thường xảy ra vào lúc cây đang tăng trưởng, ra hoa và đậu trái. Gây hại nhanh trong điều kiện ẩm độ đất và nhiệt độ cao. Đầu tiên các lá non và ngọn héo trước và toàn thân sẽ tiếp tục trong vài ngày trong khi lá vẫn còn xanh. Nếu bệnh diễn biến chậm, rễ bật định xuất hiện nhiều trên thân, chẻ thân thấy mô mạch phần thân dưới và rễ hoá nâu, cắt ngan thân, rễ nhúng vào nước sẽ thấy dòng vi khuẩn màu trắng đục trào ra từ mạch dẫn. Chưa có thuốc trị. Phòng bằng cách luân canh với ruộng lúa là tốt nhất. Thoát nước, không để độ ẩm đất quá cao, tránh làm tổn thương gốc và rễ.
+Bệnh đốm vi khuẩn: do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv vesicatoria. Bệnh gây hại quan trọng trong mùa mưa vùng nhiệt đới, trên lá, thân, trái và lan truyền qua hạt giống. Bệnh gây rụng lá nên trái thường nhỏ, cháy nắng. Trên lá và trái thường xuất hiện những đốm màu nâu đen, xung quanh màu vàng. Đốm bệnh trên trái đang chín làm thành những quầng xanh đậm. Vết bệnh không có vòng đồng tâm như bệnh úa sớm hay đốm lá và chỉ ở vỏ ngoài, dễ bong. Chưa có thuốc trị hiệu quả, phòng bệnh như cách phòng bệnh ở trên, phun thuốc gốc đồng để ngừa, xử lý hạt giống.
+ Bệnh héo Fusarium do nấm Fusarium oxysporum f.sp. Lycopersici. Bệnh gây hại trong giai đoạn sinh trưởng nhưng thường thấy lúc cây ra hoa, lá trở nên vàng. Triệu chứng héo từng phần, héo một bên lá, nhánh hay cây trước khi héo toàn phần và cây chết. Bó mạch trong thân lá đều trở nên nâu, rễ cây cũng hoá nâu. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu ấm áp, trên đất chua, đất cát, đất thiếu đạm và lân. Nấm tồn tại lâu trong đất
Phòng trị: dùng giống kháng và áp dụng luân canh, phun phòng bệnh với thuốc gốc đồng hay Polyram.
+ Bệnh úa sớm: Do nấm Alternaria solani gay ra. Nấm tạo thành những đốm bệnh tròn, vòng đồng tâm với viền màu nâu đậm, tâm nâu hay đen. Nấm sản xuất độc tố nên lá trở nên vàng, mau rụng. Nấm cũng gây vết bệnh nhỏ, lõm trên thân, khi vết bệnh lan rộng cũng có vòng tròn đồng tâm. Nấm gây hại cả trái xanh và chín, trái bệnh dễ rụng. bệnh phát triển nhanh trong điều kiện ẩm ướt và lan truyền qua lại.
Phòng trị: Dùng hạt giống không bệnh và giống kháng, luân canh. Ngừa bệnh bằng các loại thuốc Score Ridomil, Brestan, Roval.
+ Bệnh úa muộn: (sương mai) Do nấm phitophthora infestans. Bệnh gây hại nghiêm trọng, có thể mất năng suất 90-100%. Bệnh thường phát sinh trong điều kiện lạnh và ẩm ướt. Bệnh tấn công ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng và trên tất cả các bộ phận của cây trên mặt đất làm chết cành, chết cây, thối trái. Vết bệnh trên lá đầu tiên nhỏ, hình dạng không điều, màu xanh đen sau đó hoá nâu, nhũn nước khi thời tiết ẩm ướt và khô dòn, rách lá khi trời nắng khô. Trên thân vết bệnh nhũn nước, màu nâu,dễ gãy ngang làm cây chết héo. Nấm tấn công ở nữa phần trên của trái, vết bệnh màu xám xanh đến nâu sậm, cứng, nhăn nheo, lan rộng cả trái và làm thối trái hoàn toàn.
Phòng trị: Dùng giống kháng, phun phòng bệnh với thuốc Manzate, manozeb, Polyram, Ridomi, Sandofan, Aliette. Trong điều kiện thời tiết khí hậu thích hợp cho bệnh phát triển thì phải phun thuốc 2-3 ngày 1 lần.
+ bệnh thối hạch: Do nấm Sclerotium rolfsii. Nấm gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, nhất là trên cây họ đậu, họ cà, họ bầu bí. Nhận diện nấm bắng các sợi nấm trắng phát triển quanh gốc thân và trên mặt đất quanh gốc cây khi trời nóng ẩm, sợi nấm biến mất khi trời khô. Gốc thân hoá nâu và mục rã ở phần tiếp cận với mặt đất và cây héo chết. Nấm tấn công trái nằm trên mặt đất ẩm và làm trái thối mềm. Từ khối sợi sẽ hình thành các hạch nấm trắng, khi già có màu nâu đậm, kích thích bằng hạt cải. Hạch nấm tồn tại rất lâu trong đất và nẩy mầm khi có điều kiện thuận lợi.
Phòng trị: Cày phơi ải đất và xử lý đất với loại thuốc phổ rộng trước khi trồng. Đánh tỉa cành cho thoáng gốc, làm sạch cỏ và làm giàn đỡ nhánh, trái không để tiếp xúc với đất ẩm. Dùng giống kháng, Dùng thuốc Calidan, bavistin, Derosal, bendazol, daconil.
+ Bệnh thán thư: Do nấm Colletotrichum coccodes gây hại trên cà chua, ớt, khoai tây, đậu nành, trà. Bệnh xuất hiện trên đồng ruộng và làm thối trái trong kho vựa. Triệu chứng bệnh xuất hiện trên lá, thân và trái. Vết bệnh trên lá có vòng đồng tâm, viền ngoài màu nâu, giữa có màu đậm hơn, trên thân có những vết cháy màu nâu, trên trái vết bệnh tròn, nhỏ, thấm ướt, lõm xuống và lan rộng rất nhanh trong điều kiện ẩm ướt.
Phòng trị: Dùng giống kháng. Ngắt bỏ lá và trái bệnh để tránh lây lan. Phun ngừa với Score, Appencard Super, Bavistin, Calidan, Daconil…
+ Bệnh khảm do vi rút: Hiện tượng lá cà chua nhỏ, biến dạng, mất màu, xanh , vàng, loang lổ, méo mó, nhăn nheo. Có loại làm nghẽn mạch, hoại tử trên thân, trái gây héo chết, có loại làm lùn cây, gân lá có màu xanh đậm, lá cong lê, vặn vẹo. Rầy chích hút là môi giới truyền bệnh. Phun thuốc diệt rầy ngay khi mới xuất hiện, vệ sinh đồng ruộng, dùng giống kháng.
- Hiện tượng nứt trái: Nứt trái là do các điều kiện canh tác, khí hậu như: Bón niều phân, tưới nhiều nước, hay thời tiết thay đổi nhiệt độ đột ngột làm trái phát triển không đều hay quá nhanh, gây nứt trái. Hiện tượng này thường gặp khi trồng giống cà chua có vỏ mỏng, trái mềm và trong mùa mưa.
Phòng trị: Trồng giống cứng trái, cung cấp nước và phân bón điều hòa, cấn đối trong quá trình trái phát triển.
- Bệnh thối đít trái do thiếu canxi: Bệnh xuất hiện khi trái còn xanh, đít trái có đốm màu nâu sáng, sau đó đốm bệnh lan rộng và chuyển sang màu nâu sậm, lõm và cứng, nấm mốc đen có thể phát triển trên vết bệnh. Thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, bón nhiều đạm, kali hay magie dẫn đến rối loạn sinh lý của cây, làm giảm sự hấp thụ can xi trong đất, tăng khả năng bị bệnh. Bệnh thường gặp vào mùa mưa.
Phòng trị: Bón hay phun bổ sung hợp chất chứa vội như: CaCL2, Azon, Ca(NO3)2 vào giai đoạn trái phát triển, nồng độ 0,25-0,3% cung cấp nước điều hòa cho cây và không dùng giống dễ nhiễm bệnh.
6. Thu hoạch:
Cà chua ăn tươi thường được thu hoạch ở giai đoạn chín vàng để trái chín dần trong quá trình chuyên chở hay dự trữ trước khi đến tay người tiêu dùng.
Cà chua chế biến tuỳ thuộc vào mục đích mà thu hoạch vào các giai đoạn chín khác nhau. Cà chua muối được thu hoạch khi trái chín xanh. Cà chua làm Sauce (nước sốt) hay nước giải khác thu hoạch khi trái chín hoàn toàn.